Chương 159: Buổi sáng ở sân đình
Công an xã tới lúc mười một giờ đêm.
Người đó là anh trẻ, và anh ấy đi xe đạp, và chiếc áo của anh ấy ướt ở lưng.
Anh ấy đứng ở cửa, và anh ấy nhìn tờ giấy ở trên chiếc bàn, và anh ấy không vào.
"Tờ này tôi không dám cầm."
"Anh cứ đứng đó."
Chú luật sư tới lúc mười hai giờ.
Chú ấy đi chiếc xe máy, và chú ấy mang cặp, và cặp đó có chiếc túi ni lông ở trong.
Trong phòng không có tiếng gì ngoài tiếng của giấy.
"Cô Mai."
"Cái phong bì này là vật chứng."
"Vật chứng phải có biên bản."
"Biên bản phải có chữ ký của người giao, của người nhận, và của người chứng kiến."
"Cô Mai."
"Cô cầm bút."
"Cô viết giờ."
"Ô viết câu này: «Tôi không biết ai đã treo phong bì này.»."
Tôi viết, và tay tôi run, và chữ của tôi xấu, và chữ đó ngoằn ngoèo như chữ của người ta mới học.
Rồi anh công an ký, và chú luật sư ký.
Chị Trang ký, và tờ biên bản đó có bốn chữ ký.
Tờ đó được bỏ vào cái phong bì mới, và phong bì mới đó được dán lại.
Chú luật sư nói câu cuối trước khi chú ấy đi:
"Cô Mai."
"Đêm nay cô ngủ ở ngôi nhà của chị Trang."
Tôi đứng ở đó một lúc, và tôi không nói gì.
"Sáng mai việc này nó sẽ không còn là việc của cô nữa."
Tôi không hiểu câu đó.
"Tờ giấy đó có bốn mươi bảy tên."
Tờ đó mà ra thì xóm này có bốn mươi bảy ngôi nhà sẽ đứng lên.
"Việc đó không phải việc của một người."
🖤
Sáng đó tôi hiểu.
Tin đi nhanh hơn người ta đi bộ.
Tôi mới mở cửa lúc sáu giờ, và cái sân đình đã có người.
Người đầu tiên là bà bán cái bánh canh ở đầu hẻm, và bà ấy cầm nón, và bà ấy đứng ở ngoài hàng rào.
"Cô Mai ơi."
"Tờ giấy đó có tên của mẹ tôi."
Tôi mở cái cổng, và tôi để tờ giấy photocopy ở trên chiếc bàn ngoài sân.
Tôi lấy chiếc ghế đẩu ra, và tôi để tờ đó ở dưới nắng.
Rồi người ta tới.
Người ta đi từ đầu hẻm, và người ta đi chậm.
Người ta không nói, và người ta xếp thành một hàng ở trước chiếc bàn.
Người ta cúi xuống, và người ta đọc.
Ngón tay của người ta đi từ dòng trên xuống dòng dưới.
Ngón tay đó dừng lại, và người ta nói tên của mẹ, của bà, của chị.
"Đây rồi."
"Tên này là tên của mẹ tôi."
"Tên này viết sai một chữ, mà tên này là tên của mẹ tôi."
Bà ấy nói câu đó, và bà ấy ngồi xuống đất, và bà ấy khóc, và khóc đó không có tiếng.
Rồi người thứ hai, và người thứ ba.
Người thứ bảy là ông già, và ông ấy đi cái gậy, và ông ấy đọc dòng thứ chín, và ông ấy nói:
"Dòng này là đất của nhà tôi."
"Cái thửa đó có cây xoài."
"Cây xoài đó bây giờ ở trong hàng rào của công ty."
Ông ấy nói câu đó, và ông ấy không khóc.
Mắt của ông ấy nhìn tờ giấy, và mắt đó như mắt của người ta đang nhìn một ngôi nhà đã cháy.
Không khí trong phòng khô, và cổ của tôi cũng khô theo.
💔
Bà Sáu tới lúc tám giờ.
"Cô Mai."
Tờ giấy đó cô để ở đây, và người ta đứng ở đây, và người ta đọc tên của mẹ.
"Vậy tên của chồng tôi ở dòng nào?"
Tôi không biết. Và tôi đưa tờ giấy cho bà ấy.
Bà ấy cầm tờ giấy, và tay của bà ấy không run, và ngón tay của bà ấy đi từ dòng đầu.
Rồi ngón tay đó dừng ở dòng thứ ba mươi mốt.
«31.
Trần Văn Tư — ấp Giồng — 1.200 m2.»
Bà ấy đứng im lâu.
"Tên này là tên của chồng tôi."
"Tên này có chữ «Tư», và chữ đó là chữ mà xóm này gọi ông ấy."
Tôi nghĩ tới một việc, rồi tôi để việc đó đi.
Bà ấy nói câu đó, và giọng của bà ấy nhỏ, và giọng đó đều.
"Năm một ngàn chín trăm bảy mươi hai, ông ấy đi cái ghe, và ông ấy không về."
Xóm này nói ông ấy chết ở ngoài cửa biển.
"Xóm này không có giấy gì của ông ấy."
Bà ấy để tờ giấy xuống, và bà ấy nhìn tôi.
"Mà người ta có tên của ông ấy."
"Người ta có tên đó ở trên giấy, và người ta có đất của ông ấy, và người ta đã bán đất đó."
Hàng im. Hàng đó có ba mươi người, và ba mươi người đó không có ai nói.
Tôi hiểu ra một việc mà tôi thì không muốn hiểu.
Người ta không xoá tên của người đã chết.
Người ta xoá tên của người đang sống.
Người ta để tên của người đã chết, vì người đã chết không có ai đứng lên.
Mà tên của người đã chết vẫn là một tên.
Tên đó có một nghĩa vụ: người ta phải trả đất đó cho người có tên đó.
Người có tên đó đã chết ở ngoài cửa biển, và người đó không có con, và người đó không có ai để đòi.
Bà Sáu cầm tay tôi.
"Cô Mai."
"Ông ấy không có con."
Tôi không hỏi thêm, và không ai nói thêm.
"Mà ông ấy có vợ."
"Vợ của ông ấy đang đứng ở đây."
Bà ấy nói câu đó, và bà ấy cười.
Cười đó làm mặt của bà ấy nhăn lại, và nước mắt chạy vào cái nếp nhăn.
🌙
Người của xã tới lúc chín giờ.
Người đó là anh ở phòng văn hoá, và anh ấy cầm cái loa, và loa đó kêu tiếng rè trước khi anh ấy nói.
"Đề nghị bà con giải tán."
"Việc này xã đang làm việc với huyện."
"Đề nghị bà con không tụ tập."
Hàng không ai đi.
Tôi đợi thêm một chút, và cái đợi đó không khó chịu.
Anh ấy nói câu đó ba lần, và lần thứ ba giọng của anh ấy nhỏ hơn.
Rồi xe của huyện tới, và xe đó là xe trắng, và xe đó đỗ ở đầu hẻm, vì hẻm thì hẹp.
Người ta đi bộ vào, và người đó có bốn người.
Người đi đầu có cặp, và người đó không mặc chiếc áo của xã.
Người đó đứng ở cái sân đình, và người đó nhìn hàng.
Người đó nhìn tờ giấy ở trên chiếc bàn, và mặt của người đó không có gì.
"Đồng chí nào là chủ nhà?"
"Tôi."
"Chúng tôi có công văn của huyện."
"Công văn đó nói việc tạm dừng việc đăng ký, việc chuyển nhượng."
"Việc cấp giấy ở xã này, cho tới lúc việc này được làm rõ."
Rồi người đó gấp tờ giấy lại.
"Ờ giấy photocopy ở trên chiếc bàn này chúng tôi phải niêm phong."
Hàng có tiếng.
"Không được."
Tiếng đó là tiếng của bà Sáu, và bà ấy đứng ở đầu hàng, và lưng của bà ấy thẳng.
"Tờ giấy đó là tờ giấy duy nhất mà xóm này có."
Ông mà tờ giấy đó ghi tên đã chết hai mươi hai năm.
"Mà tên của ông ấy ở trên tờ giấy đó."
"Ông ấy không có cái gì khác."
Người của huyện im.
"Tờ giấy đó chúng tôi đã có bản chụp."
Bản chụp đó ở trong hồ sơ ở toà.
"Tờ giấy này là bản photocopy, và bản photocopy này xóm này có thể giữ."
Người đó nói câu đó, và người đó cúi xuống.
Người đó lấy bút, và người đó ký tên ở dưới tờ công văn, và chữ ký đó tôi không đọc được.
Rồi người đó nói câu cuối, và câu đó nhỏ, và câu đó chỉ có tôi nghe:
"Cô Mai."
"Danh sách này có bốn mươi bảy dòng."
"Dòng thứ bốn mươi bảy không có tên."
Tôi nhìn tờ giấy, và tôi đếm lại.
Tôi nhìn xuống chân, và ở dưới chân tôi có một viên gạch vỡ.
Dòng cuối đúng là dòng trống, và ở dòng đó chỉ có số «47» và chữ «1.350 m2».
"Dòng đó là dòng của người mà người ta không có tên để ghi."
Người đó nói câu đó, và người đó đứng lên.
"Mà dòng đó là dòng mà người ta đã lấy đất."
Ba nghìn hai trăm bốn mươi mét vuông chia làm ba.
"Phần của dòng thứ bốn mươi bảy ở đâu?"
Người đó không đợi tôi trả lời.
Người đó đi ra đầu hẻm, và chiếc áo của người đó trắng, và nắng làm chiếc áo đó chói.
🧩
Hàng tan lúc mười một giờ.
Bà Sáu ở lại cuối, và bà ấy cầm tờ giấy photocopy.
Tôi để mắt ở trên mặt bàn, và tôi không nhìn ai.
Bà ấy gấp tờ đó làm bốn, và bà ấy để tờ đó ở trong chiếc túi áo.
"Cô Mai."
"Bà Tư nói bà ấy không có ở đó."
Bà ấy nói câu đó hai mươi hai năm, và xóm này không có ai tin bà ấy.
"Xóm này nói bà ấy già."
Bà ấy nói câu đó, và bà ấy nhìn cái sân đình, và sân đó có lá mít, và lá đó khô.
"Mà bà ấy nói câu thật."
Câu thật đó là câu mà người ta đã lấy dấu của bà ấy để đóng.
"Bà ấy là người ta đã lấy tay của bà ấy, mà bà ấy không biết."
Rồi bà ấy đi, và xe đạp kêu, và cái bánh trước của xe đó non hơi.
Tôi ngồi ở chiếc ghế đẩu, và nắng lên tới chiếc bàn, và tờ giấy photocopy nóng ở dưới tay tôi.
Tôi lấy quyển sổ tay an nhàn ra, và tôi mở trang mới, và trang đó trắng.
"Điều năm mươi: người ta xoá tên của người đang sống, và người ta để tên của người đã chết."
Vì người đã chết không đứng lên.
"Mà người đã chết có vợ."
"Ợ của người đã chết đứng lên."
Rồi tôi đánh một dấu tích, và dấu đó tôi đánh chậm.
Bút của tôi lại hết mực, và tôi cầm bút bằng hai tay, và tôi ấn.
Cái mực ra, và dấu tích đó đậm, và đậm đó làm giấy rách một chỗ nhỏ.
Tôi nhìn chỗ rách đó, và tôi nghĩ tới dòng thứ bốn mươi bảy.
Dòng đó không có tên, và dòng đó có số «1.350 m2».
Một nghìn ba trăm năm mươi mét vuông. Phần đó lớn hơn phần của ba người kia.
Người ta đã chia đất đó làm ba, và phần thứ tư không có ở trong quyển sổ.
Phần đó đi đâu?
Tôi ngồi ở cái sân đó lâu, và lá mít rơi.
Lá đó rơi trên tờ giấy, và lá đó khô, và lá đó nhẹ, và lá đó nằm ở trên dòng thứ bốn mươi bảy.
🔥 Kết thúc chương 159
(Hết chương 159)








