Truyện Gia Cát Tiểu thuyết ↩ Về trang truyện

Chương 157: Quán ở bến xe

Quán đó ở cạnh bến xe, và quán đó có cái mái tôn thấp, và mái tôn đó kêu mỗi lần có xe khách chạy qua.

Tôi tới đó lúc bốn giờ chiều, và tôi đi một mình.

Chị Trang đứng ở ngoài, ở chỗ cây xăng, và chị ấy cầm cái máy ảnh, và chị ấy không vào.

Chú luật sư ở chiếc điện thoại, và chiếc điện thoại đó để ở chiếc túi áo của tôi, và chiếc túi đó mở.

Chị Hòa đã ngồi ở đó rồi.

Chị ấy ngồi ở chiếc bàn trong cùng.

Lưng của chị ấy quay vào cái tường, và mũ của chị ấy để trên chiếc bàn.

"Cô ngồi đi."

"Tôi đã gọi trà rồi."

"Trà ở đây ngọt."

"Cô không uống cũng được."

"Tôi hiểu."

"Tôi có một việc, mà tôi thì phải nói việc đó ra, và tôi đã giữ việc đó hai mươi hai năm."

"Hai mươi hai năm."

"Năm đó tôi hai mươi mốt tuổi."

🖤

"Đêm mười bốn tháng bảy năm hai ngàn lẻ ba, tôi ở trong phòng đó."

Chị ấy nói câu đó, và chị ấy không nhìn tôi, và mắt của chị ấy nhìn chiếc ly trà.

"Không phải phòng ở công an."

"Phòng đó ở trong uỷ ban, phòng ở cuối hành lang, phòng mà có chiếc tủ sắt và có cái máy chữ."

Tôi ngồi im.

"Tôi ngồi ở chiếc ghế ở góc, và lưng của tôi quay vào cái tường."

"Tôi không nói một câu nào, suốt đêm đó."

"Ai bảo chị ngồi đó?"

"Ba tôi."

"Ba tôi tên là Lộc."

"Ngôi nhà có cửa xanh ở hẻm đó là ngôi nhà của ba tôi."

"Ngôi nhà đó bán năm hai ngàn lẻ bốn, và người mua là công ty Phú An."

"Ba tôi bảo tôi ngồi đó, và ba tôi bảo tôi ngồi im, và ba tôi bảo tôi nhìn cho kỹ tay của người ta."

"Nhìn tay để làm gì?"

"Để sau này, nếu việc đó ra, tôi biết người nào thì đã ký."

"Đêm đó có bốn người ngồi ở chiếc bàn."

"Gười thứ nhất là ba tôi."

Người thứ hai là bà ở phòng địa chính, bà mà tên thì có chữ S.

"Người thứ ba là chị ở phòng hộ tịch, chị mà tay thì đánh máy."

"Chị Hợp."

"Ừ."

"Chị đó đánh máy, và chị đó đánh danh sách bốn mươi bảy tên, và chị đó đánh tới khuya."

"Còn người thứ tư?"

Chị ấy đặt chiếc ly xuống.

"Người thứ tư ngồi ở đầu bàn, và người đó không có tên ở trong biên bản."

"Người đó có chiếc đồng hồ vàng, và chiếc đồng hồ đó kêu, vì phòng đó im."

"Vũ Văn Khang."

"Năm đó anh ta chưa phải người như bây giờ."

"Năm đó anh ta đi chiếc xe máy, và chiếc áo của anh ta có mùi nước hoa."

"Mùi đó ở trong phòng đó tới sáng."

Tôi nhớ ông Tám ở cái tiệm khắc dấu nói.

Người đàn ông đeo chiếc đồng hồ vàng, và người đó trả tiền mới.

"Gười thứ năm."

"Người thứ năm thì không có."

"Biên bản có năm chỗ."

"Chỗ thứ năm thì có một dấu tròn, và dấu đó có một cái chấm ở trong, và chấm đó lệch về bên phải."

Tôi để chiếc ly xuống, và tay tôi lạnh.

"Dấu đó là dấu của bà Tư."

"À Tư không có ở đó."

"Bà Tư ở nhà, và bà Tư đang ngủ, và bà Tư không biết đêm đó."

💔

"Vậy dấu đó ai đóng?"

"Ba tôi."

Chữ đó ra, và chị ấy nói tiếp, và giọng đó đều, như người ta đọc quyển sổ.

"Chiếc tủ ở trong phòng đó có chiếc hộp gỗ."

"Chiếc hộp đó có sáu mươi ba dấu của người ta không biết chữ."

"Dấu của bà Tư ở trong chiếc hộp đó, vì bà Tư cũng không biết chữ."

"Bà Tư đã gửi dấu đó ở phòng đó từ năm một ngàn chín trăm chín mươi."

Tôi nhớ chiếc hộp gỗ đó.

Tôi đã mở chiếc hộp đó, và tôi đã đếm sáu mươi ba, và tôi đã đếm lại ra sáu mươi bốn.

"Vậy là ba tôi lấy dấu của bà Tư ra."

"Ba tôi đóng dấu đó vào chỗ thứ năm, để biên bản đó có người thứ năm."

"Để làm gì?"

"Để sau này, nếu việc đó ra toà, người ta đi tìm bà Tư."

Bà Tư sẽ nói bà Tư không có ở đó. Và câu đó là câu thật.

"Câu thật đó không có ai tin, vì dấu thì ở trên giấy."

Tôi ngồi, và tôi nghe chiếc quạt, và tôi hiểu ra một việc.

Bà Tư nói bà ấy không có ở đó, và bà ấy nói câu đó hai mươi hai năm.

Câu đó là câu thật, và câu thật đó là cái bẫy.

"Vậy dấu mà bà Tư giữ bây giờ…."

"Dấu đó không phải dấu đó."

"Dấu đó là dấu thứ hai, dấu mà ông ở cái tiệm khắc dấu khắc cho bà ấy."

"Sau năm hai ngàn lẻ ba, vì bà ấy đi tìm dấu của bà ấy."

"Bà ấy không thấy."

"Tôi có cái này."

Chiếc túi đó là chiếc túi giấy.

Chiếc túi đó cũ, và góc của túi đó rách.

Cái rách đó đã được dán lại bằng băng keo, và băng keo đó đã ố.

"Quyển sổ của ba tôi."

"Quyển sổ đó ở trong ngôi nhà có cửa xanh, ở dưới chiếc giường, ở trong chiếc hộp sắt."

"Chiếc hộp đó khoá, và cái chìa khoá đó ba tôi đeo ở cổ, và chìa khoá đó đi theo ba tôi xuống huyệt."

"Vậy chị lấy quyển sổ đó bằng cái gì?"

"Bằng cái búa."

"Đêm ba tôi chết, tôi ở ngôi nhà đó một mình."

"Tôi đập chiếc hộp đó, và tôi lấy quyển sổ đó."

"Tôi đi xe đò lúc bốn giờ sáng, và tôi lên Đà Lạt, và tôi ở đó hai mươi hai năm."

"Cô mở đi."

"Cô là người phải mở quyển sổ đó."

Tôi mở chiếc túi, và tôi lấy quyển sổ ra.

Quyển sổ đó là quyển sổ bìa cứng.

Bìa đó xanh, và bìa đó có nhãn trắng, và nhãn đó ghi bằng bút bi: «SỔ 1998».

🌙

Tôi lật tới trang có chữ «2003».

Trang đó có vạch gạch ở dưới, và vạch gạch đó là vạch gạch của bút chì.

«14-7-03 — 47 tên.

Đất dư: 3.240 m2.

Chia: L.

1.100 — K.

1.400 — T.

740.»

«Ký: bốn.

Dấu thứ năm: mượn (T.).»

Tôi đọc dòng đó ba lần.

"Chữ L đó là ba tôi."

"Chữ K đó là anh Khang."

"Còn chữ T đó là bà ở phòng địa chính, bà mà tôi nói."

"Ấu thứ năm thì là dấu mượn của bà Tư."

"Ừ."

"Chữ «mượn» đó là chữ của ba tôi."

"Chữ đó ba tôi viết ở trong quyển sổ này, và chữ đó không có ở trong biên bản."

Tôi lật tiếp, và trang sau thì có một tờ giấy gấp tư.

Tờ giấy đó nhỏ, và tờ giấy đó có chữ viết tay, và cái mực đó là mực xanh.

«13-7-04 — Nếu tao chết đừng đưa quyển sổ này cho thằng Khang.

Đưa cho người nào mà đi tìm tên. — L.»

Ngày đó là ngày trước ngày ba tôi chết.

"Ba tôi viết cái đó đêm trước."

"Sáng hôm sau thì ba tôi đi xe đạp lên huyện."

"Chiều người ta đem ba tôi về, và mặt của ba tôi tím, và tay của ba tôi có cái phấn đỏ."

"Phấn đỏ?"

"Cái phấn đỏ của con dấu."

"Ngón tay cái của ba tôi có phấn đó, và phấn đó ở dưới móng."

"Tôi đã hỏi người ta."

"Người ta nói ba tôi bị tim."

"Tôi không có cái bằng gì."

"Mà tôi thì biết phấn đỏ đó ở đâu ra."

"Ở chiếc hộp gỗ."

"Ở chiếc hộp gỗ."

"Gười ta đóng dấu đó vào giấy nào, ngày mười bốn tháng bảy năm hai ngàn lẻ bốn, tôi không biết."

"Mà tôi thì biết một việc: ngày đó quyển sổ đất của xóm đó đổi tên của mười một cái thửa."

Tôi để quyển sổ xuống, và tôi lấy quyển sổ tay an nhàn ra.

Tôi viết ngày đó, và tôi viết mười một cái thửa, và bút của tôi hết mực, và tôi phải vẩy bút.

"Điều bốn mươi tám: quyển sổ không phải giấy."

"Mà quyển sổ nặng hơn giấy, vì quyển sổ có người viết, và người viết có tay."

🧩

"Cô Mai."

"Tôi cho cô quyển sổ này, và tôi không xin cái gì cho tôi."

Chị ấy nói câu đó, và chị ấy nhìn ra cửa, và ở ngoài cửa có xe khách đang lùi, và xe đó kêu tiếng báo.

"Nhưng tôi xin một việc."

"Đứa con gái tôi ở Đà Lạt, và con đó không biết cái gì về quyển sổ này, và con đó đang học năm thứ ba."

Giọng của chị ấy đổi ở câu đó. Giọng đó không đều nữa.

"Tôi không xin cô việc đó."

"Tôi xin người ta."

"Mà người ta chỉ nghe cô."

Tôi nhìn mặt đó, và mặt đó không phải mặt của người ta đang xin.

Mặt đó là mặt của người ta đã tính việc đó từ lúc ngồi xuống.

"Tên của con tôi không có ở trong quyển sổ đó."

"Tên đó tôi đặt, và tên đó không mượn của ai."

"Tôi sẽ nói việc đó với chú luật sư."

"Cô nói câu đó tôi tin."

Rồi chị ấy đứng lên, và chị ấy đội cái mũ.

Tay của chị ấy vẫn run, và chị ấy cầm chiếc ly trà, và chị ấy uống hết trà nguội.

"Còn một việc nữa."

Chị ấy đứng ở lối đi, và lưng của chị ấy quay vào tôi, và giọng của chị ấy nhỏ.

"Tờ giấy khai tử mà chị ở phòng hộ tịch đánh năm hai ngàn lẻ chín."

"Tờ đó ghi chỗ chết là cái giếng ở sau hẻm."

"Ừ."

"Cái giếng đó lấp năm một ngàn chín trăm bảy mươi hai."

"Cái giếng đó lấp trước ngày người đó chết."

"Vậy tờ khai tử đó…."

"Tờ đó làm năm hai ngàn lẻ chín."

"Mà tờ đó viết như người ta đã ở đó năm một ngàn chín trăm bảy mươi hai."

Chị ấy mở cửa, và nắng ở ngoài vào, và nắng đó vàng, và bụi ở trong nắng đó bay.

"Cô Mai."

"Người ta làm tờ đó không phải người ta viết tờ đó."

"Ai?"

Chị ấy không quay lại.

"Người ta có dấu."

"Mà dấu đó ở tỉnh."

"Năm hai ngàn lẻ ba, người đó ngồi ở chiếc ghế thứ sáu, ở phòng họp ở tỉnh."

"Chiếc ghế đó không có ở trong biên bản của xóm."

Cửa đóng, và cái chuông ở trên cửa kêu một cái.

Tôi ngồi lại, và tôi mở chiếc túi áo.

Chiếc điện thoại vẫn sáng, và chú luật sư nói ở trong chiếc điện thoại:

"Cô Mai."

"Câu cuối đó cô ghi lại chữ «ghế thứ sáu» cho tôi."

"Cô đừng nói việc đó với ai, cho tới lúc quyển sổ đó ở trong biên bản."

Tôi ghi, và tôi nhìn ra cửa, và chị ấy đã đi qua bến xe.

Dáng đó nhỏ, và cái mũ đó màu xám, và mũ đó lẫn vào đám người ta đang đợi xe.

Rồi tôi cầm quyển sổ, và quyển sổ đó nặng, và tôi hiểu cái sức nặng đó không phải sức nặng của giấy.

🔥 Kết thúc chương 157

(Hết chương 157)

Khu trò chơi

Giải Lao Sau Khi Đọc Truyện — Chơi Game Nhanh

Tất cả trò chơi →
Trick PawsNổi bật · ★4.7Trick PawsHTML5★4.7Boat War MayhemBoat War MayhemHTML5★4.8City Bus Simulator Driving GamesCity Bus Simulator Driving GamesHTML5★4.3Call Of TanksCall Of TanksHTML5★4.4Heist IdleHeist IdleHTML5★4.5Octopus RunOctopus RunHTML5★4.3Magic Battle OnlineMagic Battle OnlineHTML5★4.8Haunted House IdleHaunted House IdleHTML5★4.6Plant SquadPlant SquadHTML5★4.3