Truyện Gia Cát Tiểu thuyết ↩ Về trang truyện

Chương 150: hộp gỗ của bà Sáu

Ngôi nhà cuối hẻm có một hiên, và ở trên hiên đó có một cái chõng tre và một bàn nhỏ.

Con hẻm ngoài đó thì tối, và đèn của quán đầu hẻm thì soi một vệt vàng xuống nền.

Bà Sáu để hộp gỗ lên bàn đó, và bà ấy ngồi xuống cái chõng, và bà ấy để cái gậy tre ở bên cạnh.

Tôi ngồi xuống, và tiếng của con hẻm buổi đêm thì đi vào qua khe cửa.

"Cô ngồi đi."

Tôi ngồi xuống ghế đẩu ở trước bàn.

Mùi của đất và mùi của mưa cũ thì trộn với nhau, và nó ở lại rất lâu.

Đèn ở trên hiên vàng, và nó không đủ sáng, và cái bóng của hộp dài ở trên bàn.

Ở ngoài kia có một người đi ngang, và bước chân của người đó thì chậm.

Ngoài ngõ có một chiếc xe máy đi qua, và tiếng của nó thì xa dần, rồi mất.

Bà ấy mở nắp, và bà ấy lấy ra dấu.

Mùi nhang cũ vẫn còn ở trong tường, và nó trộn với mùi mưa của buổi sáng.

"Làng chài đó ở cửa sông, cách huyện này bốn mươi cây số."

"Làng đó bây giờ không còn. Người ta đi nghề khác, và cái bãi người ta xây cái kè."

"Mà chỗ đó bây giờ là bến của con tàu."

"Cái tàu chở cái cát, và cát đó đi lên thành phố."

Bà ấy xoay dấu ở trong tay.

Nắng thì dời một chút, và bóng của cái cửa sổ thì dài ra trên nền nhà.

"Năm 1968 làng đó có một việc."

"Người ở làng đó đi ghe ra cửa sông, và người đó bán cá cho ghe buôn."

"Mà ghe buôn cần một tấm giấy."

"Tấm giấy gì?"

"Tấm giấy ghi số cá."

"Mà người ở làng chài không biết chữ."

"Cho nên người đó vẽ một dấu."

Bà ấy nhìn tôi.

"Tôi vẽ dấu đó, vì chồng tôi không biết chữ, và tôi học được ba chữ ở cái lớp của cái chùa."

"Cho nên tôi vẽ dấu đó, và dấu đó có nghĩa: người này có mặt ở đây, mà tên thì không có."

🖤

"Chồng tôi tên là Tư."

"Tên đó thì là tên ở nhà."

"Tên ở trên tấm giấy tôi không biết, vì chồng tôi không có tấm giấy nào."

"Mà đám cưới của tôi không có tấm giấy."

"Làng đó cưới bằng cái lễ, và người trong làng biết, và tấm giấy không có."

"Rồi năm 1972 chồng tôi không về."

Bà ấy nói câu đó, và giọng của bà ấy không đổi, cái kiểu của một người đã nói câu đó nhiều lần.

Tiếng quạt ở trên trần vẫn kêu, đều, và nó không cho căn phòng im hẳn.

"Ghe của ông ấy đi ra cửa sông vào buổi chiều. Rồi có cái bão."

"Rồi ghe đó không về."

"Người ta đi tìm ba ngày. Rồi làng đó làm cái lễ, và người ta đốt thì là áo của ông ấy, vì cái xác không có."

Bà ấy nhìn dấu ở trong tay.

Một người đi ngang con hẻm, và dép của người đó thì kêu trên nền đá.

"Cái đêm đó làng đó im. Đèn của ghe ở ngoài cửa sông, và đèn đó nhỏ, và người ở trên bờ đếm nó."

"Sáng hôm sau thì ghe buôn tới, và ghe buôn hỏi: ghe của ông Tư đâu. Mà không ai trả lời."

"Năm đó làng chài có ba ghe không về. Mà làng đó có ba người đàn bà không có tấm giấy."

Tôi nghĩ tới bến sông ở cái ấp này, và chị Trần Thị Ngọ, chị chết ở đó vào năm 1972.

Ở đâu đó có tiếng chó sủa một tiếng, rồi im.

Năm đó có hai người đàn bà ở hai chỗ khác nhau, và người nào cũng chết ở trong cái nước.

Gió thì đi qua, và mấy cái lá ở giàn thì động.

"Bà ơi,"

Tôi nói.

"Năm 1981 có một người tới ngôi nhà này."

Bà ấy gật.

"Ông đó thì là ông ở cái ban địa chính. Ông ấy tên là Sâm."

"Ông ấy tới đây làm gì?"

"Ông ấy tới để xin dấu."

Cái quạt ở trong ngôi nhà quay.

Con hẻm ngoài đó thì tối, và đèn của quán đầu hẻm thì soi một vệt vàng xuống nền.

"Ông ấy nói: xã có những người không biết chữ, và xã phải có một dấu để đóng cho người đó."

"Mà dấu đó xã không có."

"Rồi bà khắc cho ông ấy."

"Tôi khắc cho ông ấy một dấu khác."

"Dấu đó cũng là dấu móc, mà nét của nó to hơn, vì nó thì phải đóng ở trên tấm giấy của xã."

Bà ấy nhìn tôi.

"Mà dấu đó tôi khắc nó trong ba ngày. Mà ông ấy trả tôi bằng một việc."

💔

"Việc gì?"

"Ông ấy làm cho tôi hai tấm giấy khai sinh của hai con tôi."

"Mà tấm giấy đó không có tên của chồng tôi, vì chồng tôi không có tấm giấy khai tử."

"Ông ấy nói: người chết mà không có tấm giấy xã không ghi được."

"Cho nên tấm giấy của con tôi có dòng tên cha trống, và dòng tên mẹ có tên của một người khác."

Bà ấy đứng lên, và bà ấy đi vào trong ngôi nhà.

Tôi ngồi xuống, và tiếng của con hẻm buổi đêm thì đi vào qua khe cửa.

Bà ấy ra với một túi ni lông, và ở trong túi đó có hai tấm giấy.

Mùi của đất và mùi của mưa cũ thì trộn với nhau, và nó ở lại rất lâu.

"Cái này của con gái tôi. Cái này của con trai tôi."

Tôi mở tấm giấy thứ nhất.

Ở ngoài kia có một người đi ngang, và bước chân của người đó thì chậm.

Ngoài ngõ có một chiếc xe máy đi qua, và tiếng của nó thì xa dần, rồi mất.

Nó là tấm giấy khai sinh, cấp năm 1981, và ở cái góc dưới có một dấu móc.

Mùi nhang cũ vẫn còn ở trong tường, và nó trộn với mùi mưa của buổi sáng.

Dòng «tên cha» trống.

Nắng thì dời một chút, và bóng của cái cửa sổ thì dài ra trên nền nhà.

Dòng «tên mẹ» có một tên, và tên đó không phải tên của bà Sáu.

Tiếng quạt ở trên trần vẫn kêu, đều, và nó không cho căn phòng im hẳn.

"Bà ơi. Tên này thì là ai?"

"Tôi không biết."

Bà ấy nói.

"Ông Sâm nói: tên đó thì là tên của một người đã mất, và tên đó không có ai dùng."

"Cho nên con của bà có tên đó."

Đèn ở trên hiên vàng.

Một người đi ngang con hẻm, và dép của người đó thì kêu trên nền đá.

"Cho nên con tôi có một tên khác,"

Bà ấy nói.

"Mà tên đó ở trên tấm giấy."

"Mà tên mà tôi gọi nó không có ở trên tấm giấy nào."

Bà ấy nhìn tôi.

"Cô hiểu không? Con gái tôi có hai tên. Một tên ở trên tấm giấy, và một tên ở trong ngôi nhà này."

Tôi nhìn tờ giấy đó, và tay tôi lạnh.

Ở đâu đó có tiếng chó sủa một tiếng, rồi im.

Tôi nói:

"Cho nên dấu này thì không phải dấu của người không có tên."

"Nó là dấu của việc người ta lấy tên của một người khác."

"Phải."

Bà ấy nói.

"Mà tôi khắc dấu đó."

Ngôi nhà im, và ở ngoài hiên có tiếng của một con dế.

Gió thì đi qua, và mấy cái lá ở giàn thì động.

"Tôi khắc nó, vì tôi muốn con tôi có tấm giấy. Mà tấm giấy đó có tên của một người khác."

Bà ấy cầm dấu lên.

Con hẻm ngoài đó thì tối, và đèn của quán đầu hẻm thì soi một vệt vàng xuống nền.

"Cho nên dấu đó ở trong tay tôi, và nó nặng."

🌙

Tám giờ tối, chị Trang tới.

Tôi ngồi xuống, và tiếng của con hẻm buổi đêm thì đi vào qua khe cửa.

Chị ấy mang máy ảnh và một đèn nhỏ.

Và chị ấy chụp dấu ba lần, ở ba cái góc, và chị ấy chụp hộp gỗ, và chị ấy chụp hai tấm giấy khai sinh.

Mùi của đất và mùi của mưa cũ thì trộn với nhau, và nó ở lại rất lâu.

Rồi chị ấy ngồi xuống ghế đẩu, và chị ấy nói:

"Hội đồng giám định sẽ so ba dấu."

"Dấu của bà Sáu."

"Dấu ở trong hộp ở xã."

"Dấu mà ông Tám khắc ba tuần trước."

"Ba dấu đó khác nhau,"

Tôi nói.

Ở ngoài kia có một người đi ngang, và bước chân của người đó thì chậm.

Ngoài ngõ có một chiếc xe máy đi qua, và tiếng của nó thì xa dần, rồi mất.

"Khác nhau, mà nét của nó cùng một tay."

"Hội đồng đó nhìn nét. Mà nét của dấu này có một cái đặc điểm: đầu của móc nhỏ hơn cái đuôi."

"Đó là nét của một người vẽ dấu bằng tay phải, và tay đó hơi nghiêng."

"Còn dấu của ông Tám không có nét đó. Nét của nó đều, vì ông đó khắc nó bằng máy."

"Cho nên hội đồng đó sẽ nói: dấu thứ nhất và dấu thứ hai thì là của một tay."

"Còn dấu thứ ba thì là của một máy."

"Mà dấu thứ hai, dấu ở trong hộp ở xã, có nét của bà."

"Cho nên dấu đó thì là dấu của bà, và nó được khắc vào năm 1981."

Bà Sáu nhìn chị ấy.

Mùi nhang cũ vẫn còn ở trong tường, và nó trộn với mùi mưa của buổi sáng.

"Cô nói cái gì?"

"Con nói dấu của bà thì là dấu đầu tiên. Mà dấu của xã thì là dấu thứ hai, và nó do tay của bà làm ra."

Bà ấy gật, và bà ấy nói:

"Vậy tôi phải đi toà."

"Bà đi được không?"

Tôi hỏi.

"Tôi đi được. Mà cô phải hứa với tôi một việc."

"Việc gì?"

Bà ấy nhìn con hẻm, con hẻm mà ở đầu nó cái biển tên đã bị tháo.

"Con hẻm này có tên của bà Đen."

"Mà bà Đen đó thì là người không có tên."

"Cho nên con hẻm này thì là chỗ cuối cùng mà người không có tên có một chỗ."

Bà ấy nhìn tôi.

"Đừng để người ta đổi tên đó."

🧩

Tôi ngồi ở hiên đó tới chín giờ.

Rồi tôi lấy quyển sổ tay an nhàn ra, và tôi viết ở dưới đèn:

"Điều bốn mươi mốt: dấu đó được vẽ ra để cho người không có tên có một chỗ."

"Mà người có tấm giấy lấy dấu đó, và người đó làm cho người không có tên có một tên khác."

Rồi tôi đánh một dấu tích.

Rồi cái điện thoại của tôi reo.

"Cô Mai,"

Chị Trang nói.

"Tôi vừa xem quyển sổ của căn phòng công chứng số hai."

"Quyển sổ đó ghi giờ của mỗi việc."

"Rồi?"

"Có một việc vào lúc hai giờ mười bốn phút sáng."

"Ngày đó thì là ngày của tháng trước, ngày mà mười hai tấm giấy đó được công chứng."

Đèn ở trên hiên vàng.

"Mà người ký quyển sổ đó không phải bà Trần Thị Kim."

"Chữ ký đó thì là một chữ ký khác, và người đó ký ba lần trong cái đêm đó."

"Tên?"

"Tên viết bằng chữ in. Nó là tên của người mà toà đã biết."

🔥 Kết thúc chương 150

(Hết chương 150)

Khu trò chơi

Giải Lao Sau Khi Đọc Truyện — Chơi Game Nhanh

Tất cả trò chơi →
Trick PawsNổi bật · ★4.7Trick PawsHTML5★4.7Boat War MayhemBoat War MayhemHTML5★4.8City Bus Simulator Driving GamesCity Bus Simulator Driving GamesHTML5★4.3Call Of TanksCall Of TanksHTML5★4.4Heist IdleHeist IdleHTML5★4.5Octopus RunOctopus RunHTML5★4.3Magic Battle OnlineMagic Battle OnlineHTML5★4.8Haunted House IdleHaunted House IdleHTML5★4.6Plant SquadPlant SquadHTML5★4.3