Chương 149: Cái loa ở đầu con hẻm
Căn phòng của chủ tịch xã thì ở cái tầng hai, và cái cửa của nó thì mở.
Gió thì đi qua, và mấy cái lá ở giàn thì động.
Ở trong đó có một cái bàn to, một cái tủ lạnh nhỏ, và một cái ấm nước.
Cái vách của căn phòng đó thì treo một bản đồ của xã.
Và bản đồ đó thì được in từ năm 1998, và ở trên nó thì có những cái chỗ đã bị cái nắng làm cho bạc màu.
Cái quạt của căn phòng đó thì quay ở trên cái trần.
Và tiếng của nó thì nhỏ, và cái cửa sổ thì mở, và ở ngoài cái cửa sổ đó thì có tiếng của cái chợ.
Ông chủ tịch thì trẻ, khoảng bốn mươi, và ông ấy rót cái trà ra cái chén, và ông ấy đẩy cái chén về phía tôi.
"Cô uống cái trà."
Tôi cầm cái chén, và tôi không uống.
"Thưa ông, con hẻm Bà Đen thì có mười hai hộ.
Và cái tháng trước thì có mười hai hộ ký tấm giấy chuyển nhượng đất."
Tay của ông ấy thì dừng ở trên cái ấm.
Ông ấy nhìn tôi, và mắt của ông ấy thì không giận. Nó chỉ mệt.
Ngoài ngõ có một chiếc xe máy đi qua, và tiếng của nó thì xa dần, rồi mất.
"Cô Mai."
"Việc này thì tôi mới nhận cái chỗ này được bốn cái tháng."
"Mà việc của hồ sơ năm 2003 thì tôi chỉ biết nó ở trên tấm giấy."
"Ai nói cô việc đó?"
"Tấm giấy đó thì ở trong tay của tôi. Tôi có một bản photo."
Ông ấy đặt cái ấm xuống.
"Cô Mai."
"Việc đó thì là việc của căn phòng địa chính."
"Nó không phải việc của cái văn phòng này."
"Nó là việc của xã,"
Chị Thắm nói, và chị ấy đứng ở cái cửa.
Ông ấy nhìn chị ấy, và gương mặt của ông ấy thì không đổi.
"Hồ sơ của năm 2003 thì đâu?"
Chị ấy nói.
"hồ sơ đó thì xã phải giữ."
"Mà hồ sơ đó thì đi ra khỏi xã lúc bảy giờ sáng, bằng một công văn mà huyện nói là không có."
Căn phòng im.
Rồi ông đó mở cái ngăn kéo, và ông ấy lấy ra một cái tập hồ sơ.
"Cái này thì căn phòng địa chính đưa tôi, tuần trước."
Ông ấy để cái tập đó lên cái bàn, và ông ấy mở nó.
Ở trong đó có mười hai tấm giấy chuyển nhượng.
Và tấm giấy nào cũng có dấu móc ở cái góc dưới, dấu cong về phía tay trái.
"Cô đếm đi."
"Mười hai cái."
"Mà người mua thì là một công ty."
"Công ty Phú An."
"Phải."
"Tiền thì đã trả chưa?"
Ông ấy nhìn tôi.
"Chưa."
🖤
"Vậy thì tấm giấy đó thì chưa có giá trị,"
Tôi nói.
"Nó có dấu của xã."
"Nó có dấu của một người đã chết hai mươi hai năm."
"Tên ở trên tấm giấy thì là tên của mẹ tôi, và mẹ tôi thì mất năm 2004."
"Cho nên chữ ký đó thì không phải chữ ký của mẹ tôi."
"Và dấu đó thì không phải dấu của người ở trong cái ấp này."
Ông đó thì im.
"Ông ơi,"
Tôi nói.
"tấm giấy chuyển nhượng thì phải có công chứng. Công chứng đó thì ở đâu?"
Ông ấy lật tấm giấy cuối, và ông ấy chỉ dấu đỏ ở cái góc.
Mùi nhang cũ vẫn còn ở trong tường, và nó trộn với mùi mưa của buổi sáng.
"Ở căn phòng công chứng số hai, ở thị trấn. Người ký thì là bà Trần Thị Kim."
Chị Thắm cầm tấm giấy đó lên, và chị ấy nhìn dấu đó một lúc lâu.
"Bà đó thì tôi biết,"
Chị ấy nói.
"Bà ấy về hưu năm ngoái."
"Mà dấu này thì mới."
"Vậy thì người ký tấm giấy này thì không phải bà đó."
Chị ấy đặt tấm giấy xuống, và chị ấy nói, và giọng của chị ấy thì nhỏ:
"Mà dấu của căn phòng công chứng thì ở trong cái tủ của căn phòng đó."
"Dấu đó thì không phải dấu của một người."
"Nó là dấu của căn phòng."
"Cho nên người nào có chìa của cái tủ đó thì người đó đóng được dấu đó, vào bất cứ giờ nào."
Tôi nhìn dấu đỏ ở trên tấm giấy.
"Cho nên tấm giấy đó thì có hai dấu."
"Một dấu thì giả, và một dấu thì thật."
"Mà dấu thật đó thì làm cho tấm giấy giả đó thì có giá trị."
"Phải."
Chị ấy nói.
"Mà việc đó thì khó hơn."
"Vì toà thì sẽ nói: tấm giấy đó thì có dấu của căn phòng công chứng."
💔
Chiều đó, tôi mượn cái loa của xã.
Cái loa đó thì cũ rích, cái vỏ thì bằng nhựa.
Và cái dây của nó thì dài, và nó thì kêu một tiếng rè trước khi có giọng.
Tôi đứng ở cái đầu hẻm Bà Đen, ở cái chỗ mà cái biển tên hẻm thì đã bị tháo.
Cái trời thì chưa tối, và cái nắng thì ở trên cái tường, và ở trong con hẻm thì có người.
"Con hẻm này thì có mười hai ngôi nhà,"
Tôi nói.
Nắng thì dời một chút, và bóng của cái cửa sổ thì dài ra trên nền nhà.
Cái loa thì rè, và tiếng của tôi thì vang ở trong con hẻm.
"Cái tháng trước, mười hai ngôi nhà đó thì ký một tấm giấy chuyển nhượng đất."
"Tấm giấy đó thì bán con hẻm này cho một công ty."
Con hẻm im.
"Tấm giấy đó thì có tên của mẹ tôi ở dòng bên bán. Mà mẹ tôi thì mất năm 2004."
Có một người ở trong con hẻm nói một cái gì, và tiếng đó thì không rõ.
Rồi một chị ở ngôi nhà thứ sáu thì nói to:
"Vậy cái đất của tôi thì sao? Ngôi nhà tôi thì ở đây ba mươi năm rồi."
Con hẻm thì xôn, và có ba người nói một lúc, và cái loa thì rè.
"Dấu móc ở trên tấm giấy đó thì là dấu của người không có tên."
"Dấu đó thì tấm bảng mã không có."
"Cho nên người làm tấm giấy đó thì khắc một dấu mới, và người đó thì khắc nó sai."
Tôi cầm dấu khắc ngược ở trong tay, và tôi giơ nó lên.
"Dấu này thì là dấu mà người ta đã đóng ở trên tấm giấy của các cô, các bác, trong hai mươi hai năm."
"Nó quay ngược."
"Cho nên nếu mà tấm giấy của các cô, các bác có dấu này."
"Thì tấm giấy đó thì được làm bởi người không có dấu thật."
Rồi tôi mở quyển sổ, và tôi đọc.
"Nguyễn Thị Bảy."
"Nguyễn Thị Đầy."
"Trần Văn Sửu."
"Trần Thị Tư."
"Vũ Văn Sâm."
Tôi đọc bốn mươi bảy tên, và tôi đọc chậm, và cái loa thì rè ở mỗi tên.
Ở tên thứ bốn mươi bảy, tôi ngừng.
Tiếng quạt ở trên trần vẫn kêu, đều, và nó không cho căn phòng im hẳn.
"Trần Thị Ngọ."
"Sinh năm 1945."
"Mất năm 1972."
"Chưa có chồng, chưa có con."
Con hẻm im, và cái nắng thì đã tắt ở trên cái tường.
Rồi một ông ở ngôi nhà thứ ba thì ngồi xuống cái thềm.
Và ông ấy lấy tay che mặt, và cái vai của ông ấy thì rung.
🌙
Rồi bà cụ ở cái cuối con hẻm thì đi ra.
Bà ấy tên là Sáu, và bà ấy bảy mươi bảy tuổi, và bà ấy thì ở ngôi nhà cuối hẻm từ năm 1975.
Năm mà bà ấy đi từ làng chài vào cái ấp này, với một cái túi vải và một cái hộp gỗ.
Bà ấy mặc cái áo bà ba, và tay phải thì chống cái gậy tre, và tay trái thì cầm một cái túi vải.
Bà ấy đi chậm, và con hẻm thì im, và người nào cũng nhìn bà ấy.
Bà ấy đứng ở trước mặt tôi, và lưng của bà ấy thì cong, và cái đầu của bà ấy thì chỉ tới cái ngực tôi.
Một người đi ngang con hẻm, và dép của người đó thì kêu trên nền đá.
"Dấu đó thì tôi biết,"
Bà ấy nói.
Giọng của bà ấy thì nhỏ, và nó thì khàn.
"Bà ơi."
"Dấu đó thì tôi vẽ ra."
Con hẻm thì xôn.
"Bà vẽ ra?"
"Tôi vẽ nó ở cái làng chài, ở cái bãi biển, vào năm 1968."
"Hồi đó thì tôi mười chín tuổi, và cái chồng tôi thì đi cái ghe, và cái chồng tôi thì không có tấm giấy."
Bà ấy nhìn dấu ở trong tay tôi.
"Người ở cái làng đó thì không có tấm giấy."
"Cho nên người đó thì vẽ một dấu, và dấu đó thì có nghĩa: tôi thì ở đây."
Rồi bà ấy mở cái túi vải ở trong tay trái.
Ở trong cái túi đó thì có một cái hộp, cái hộp thì bằng gỗ, và cái nắp của nó thì trượt.
Bà ấy mở cái nắp.
Ở trong cái hộp đó thì có một dấu gỗ, và gương mặt của nó thì đã mòn.
"Dấu này thì tôi khắc nó ở cái làng chài, bằng cái dao của cái chồng tôi. Nó ở với tôi năm mươi tám năm."
Bà ấy đưa dấu đó cho tôi.
"Dấu thật thì cong về phía tay phải. Cô nhìn đi."
Tôi nhìn mặt dấu đó, và dấu móc ở trên nó thì cong về phía tay phải, và cái đầu của nó thì nhỏ.
Và cái nét của nó thì sâu, vì nó thì đã được đóng xuống rất nhiều tấm giấy.
Ở trên cái chuôi của dấu đó thì có một chữ, khắc bằng cái dao, và chữ đó thì đã mờ:
"KHÔNG TÊN."
🧩
Tôi đứng ở cái đầu hẻm đó, và tay tôi thì cầm dấu, và dấu đó thì nặng hơn dấu tôi đã cầm ở xã.
"Dấu này thì phải đi toà,"
Tôi nói.
Bà ấy gật.
"Mà cô phải nói một việc với toà."
"Việc gì?"
"Dấu này thì không phải của một người."
"Nó là của cái làng."
"Cho nên toà thì không thể nói dấu này thì của ai."
Bà ấy nhìn con hẻm.
"Mà người ta làm tấm giấy giả đó thì lấy dấu của tôi ở đâu, thì cô phải hỏi người đã ở cái làng chài đó."
Rồi bà ấy quay lại, và bà ấy đi về phía ngôi nhà cuối hẻm.
Và cái gậy tre thì gõ ở trên đất, và tiếng đó thì đều.
Tôi lấy quyển sổ tay an nhàn ra, và tôi viết ở dưới cái đèn của con hẻm:
"Điều bốn mươi: dấu đó thì không có chủ."
"Cho nên người nào nói dấu đó là của mình thì người đó đang nói một điều mà dấu đó không nói."
Rồi tôi đánh một dấu tích.
Rồi tôi gọi cho chị Trang, và tôi nói:
"Dấu thật thì ở trong tay của tôi. Mà người vẽ ra nó thì đang ở ngôi nhà cuối hẻm."
🔥 Kết thúc chương 149
(Hết chương 149)








