Chương 148: Cái văn phòng ở cái tầng một
Cái văn phòng đó thì ở cái tầng một, căn phòng thứ hai tính từ cái cầu thang.
Tiếng quạt ở trên trần vẫn kêu, đều, và nó không cho căn phòng im hẳn.
Cái cửa của nó thì mở, và ở trong đó có hai cái bàn, hai cái tủ, và một cái máy photo.
Người ở trong đó thì là một chị, khoảng ba mươi.
Cái áo của chị ấy thì là cái áo sơ mi của ngành, và cái màu của nó thì xanh nhạt.
Một người đi ngang con hẻm, và dép của người đó thì kêu trên nền đá.
Ở trên cái bàn của chị ấy thì có một cái tập hồ sơ dày, một con dấu, và một cái hộp mực.
"Chị ơi,"
Tôi nói.
"Tôi muốn nộp tài liệu."
Chị ấy ngẩng lên.
"Cô là bị đơn trong vụ Phú An?"
"Tôi là bị đơn."
Chị ấy nhìn cái túi vải ở trong tay của chị Hạnh, và chị ấy nói:
"Cô để cái đó lên cái bàn. Mà cô phải làm đơn."
"Đơn đó thì ghi tên của tài liệu, số của trang, và việc mà cô muốn toà làm."
Tôi ngồi xuống cái ghế ở trước cái bàn, và tôi viết đơn đó trong hai mươi phút.
Bút của toà thì hết mực, và chị đó thì đưa cho tôi một bút khác, và bút đó thì có cái nắp màu đỏ.
Tôi ghi tên của ba thứ.
Tôi ghi cái túi ni lông có bốn mươi bảy mảnh giấy.
Tôi ghi dấu khắc ngược.
Tôi ghi quyển sổ của ông Hải, và quyển sổ nhỏ mà chị Hợp đã giữ ở trong cái tủ số một trăm hai mươi tám.
Rồi chị đó đọc đơn, và chị ấy đóng dấu của toà vào cái góc.
Ở đâu đó có tiếng chó sủa một tiếng, rồi im.
"Cô giữ một bản,"
Chị ấy nói.
"Mà bản gốc thì cô phải nộp trong ngày mai."
"Bản gốc của cái gì?"
"Của biên bản ngày 14 tháng 7."
"Tôi không có bản gốc đó."
Chị ấy nhìn tôi.
"Vậy thì cô phải nói việc đó ở trong đơn."
Tôi cầm bút, và tôi viết thêm một dòng ở dưới đơn:
"Bản gốc của biên bản ngày 14 tháng 7 năm 2003 thì hiện ở trong tay của ông Vũ Văn Khang.
Và ông đó thì đã nói việc đó với tôi ở trước cái cửa của toà án, lúc tám giờ, ngày hôm nay."
Chị ấy đọc dòng đó hai lần.
Rồi chị ấy nói, và giọng của chị ấy thì khác:
"Cô chờ ở đây."
🖤
Chị ấy đi lên cái cầu thang, và chị ấy ở trên đó mười lăm phút.
Cái cầu thang đó thì bằng đá, và cái bước chân của chị ấy thì vang, và tiếng đó thì nhỏ dần ở cái tầng trên.
Gió thì đi qua, và mấy cái lá ở giàn thì động.
Trong cái thời gian đó, tôi ngồi ở cái ghế, và tôi nhìn cái máy photo, và tôi nghe tiếng của nó.
Cái máy đó thì có một cái đèn ở trên cái nắp, và cái đèn đó thì sáng, và nó thì soi cái nắp kính.
Ở trên cái nắp kính đó thì có một vết của mực, vết của một tấm giấy mà người ta đã photo lúc trước.
Chị Hạnh thì ngồi ở cái ghế bên kia, và chị ấy không nói gì, và tay của chị ấy thì ở trên cái túi vải.
Ngoài ngõ có một chiếc xe máy đi qua, và tiếng của nó thì xa dần, rồi mất.
Rồi chị đó đi xuống.
"Ông thẩm phán thì nói: toà sẽ ra quyết định về bản gốc trong ngày hôm nay."
"Ông đó thì sẽ gọi cho ông Khang."
Chị ấy ngừng.
"Mà cô thì phải có một tấm giấy nữa."
"Tấm giấy gì?"
"Tấm giấy của người mà cô nói là người làm dấu."
"Ông Tám ở cái tiệm khắc dấu."
"Tấm giấy đó thì phải có chữ ký của ông đó, và phải có cái xác nhận của công an của thị trấn."
Tôi nhìn chị ấy.
"Tôi đã có tấm giấy đó."
"Vậy thì cô nộp nó trong ngày mai."
Chúng tôi ra khỏi toà án lúc mười giờ.
Cái sân thì nắng, và ở ngoài cổng thì có cái quán nước.
Và ở trên bàn của cái quán đó thì có một cái báo.
Chị Hạnh cầm cái báo lên, và chị ấy nhìn trang đầu.
Mùi nhang cũ vẫn còn ở trong tường, và nó trộn với mùi mưa của buổi sáng.
"Cô Mai."
Bài đó thì ở trang đầu, ở phía dưới tên của tờ báo.
Tiêu đề thì to:
"HAI CÁI DẤU MÓC, HAI MƯƠI HAI NĂM, MỘT CÁI TÊN."
Ở bên cạnh tiêu đề đó thì có một tấm ảnh, và trong tấm ảnh đó thì có hai dấu ở trên một tờ giấy trắng.
Dấu thứ nhất thì cong về phía tay phải. Dấu thứ hai thì cong về phía tay trái.
Nắng thì dời một chút, và bóng của cái cửa sổ thì dài ra trên nền nhà.
Ở dưới tấm ảnh đó thì có một dòng chữ nhỏ: "dấu thật và dấu khắc sai.
Ảnh: T.
T."
Tôi đứng ở cái quán đó, và tôi đọc bài đó hai lần.
Trong bài đó có tên của huyện.
Nó có tên của xã.
Nó có số của công văn bảy mươi hai mà huyện nói là không có.
Mà nó không có tên của tôi.
Chị Trang thì viết ở dòng cuối:
"Người phụ nữ trong câu chuyện này thì đã yêu cầu cái báo không nêu tên của cô ấy."
"Vì mẹ của cô ấy thì đã mất."
"Và tên của mẹ cô ấy thì vẫn còn ở trên một cái bia."
💔
Chúng tôi về con hẻm lúc mười một giờ.
Tiếng quạt ở trên trần vẫn kêu, đều, và nó không cho căn phòng im hẳn.
Con hẻm đó thì khác.
Ở trước cái sạp rau của mẹ tôi thì có ba người đang đứng, và ở trên tay của một người thì có một tờ báo.
Bà ở ngôi nhà bên cạnh thì ở trong cái sân của bà ấy.
Bà ấy nhìn tôi, và bà ấy không đóng cửa, và tay của bà ấy thì cầm một cái túi ni lông.
Và bà ấy đứng ở đó một lúc lâu, cái kiểu đứng của một người đã nghĩ một việc và không dám nói.
Một người đi ngang con hẻm, và dép của người đó thì kêu trên nền đá.
Rồi bà ấy đi ra, và bà ấy cầm một cái túi ni lông.
"Cô Mai."
Tôi đứng lại.
"Chữ ở trên cái tường đó thì con tôi viết,"
Bà ấy nói.
"Nó không biết việc."
"Nó nghe người ta nói ở cái quán."
Bà ấy để cái túi lên cái sạp.
"Mà cái này thì tôi muốn cô xem."
Ở trong cái túi đó có một tấm giấy, tấm giấy thì cũ, và nó thì được gấp làm bốn.
Ở đâu đó có tiếng chó sủa một tiếng, rồi im.
Tôi mở nó ra.
Đó là tấm giấy khai sinh của con trai bà ấy, cấp năm 1988, và ở cái góc dưới thì có một dấu móc.
"Dấu này thì ở trên tấm giấy của con tôi,"
Bà ấy nói.
"Mà mẹ tôi thì không có tên ở trong quyển sổ của xã."
"Bà tôi thì cũng không."
"Dấu này thì là dấu của người không có tên."
"Tôi không biết nó là cái gì. Tôi chỉ biết ông ở xã thì nói: dấu này thì phải có, thì tấm giấy mới đứng."
🌙
Tối đó, ngôi nhà của dì Mận thì đông.
Mười hai hộ ở trong con hẻm thì tới.
Và người nào cũng cầm một cái túi, và ở trong cái túi đó thì có một tấm giấy.
Gió thì đi qua, và mấy cái lá ở giàn thì động.
Có tấm giấy khai sinh.
Có tấm giấy chuyển nhượng đất.
Có tấm giấy xác nhận của xã, cấp năm 1994, có dấu đỏ và có dấu móc.
Chúng tôi để những tấm giấy đó ở trên cái bàn, và cái bàn đó thì không còn chỗ.
Cái Tuấn thì ngồi ở cái ghế thấp, và nó mở quyển sổ nháp của nó, và nó ghi tên của từng người.
Ông ở ngôi nhà thứ tư thì nói:
"Tấm giấy của bà nội tôi thì có dấu đó."
"Mà tên ở trên tấm giấy thì là tên của chị của bà nội tôi, chị mà chết năm 1968."
Bà ở ngôi nhà thứ bảy thì nói:
"Ngôi nhà tôi thì mua cái đất này năm 1996."
"Mà tấm giấy thì ông ở xã viết, và ông đó thì nói: tên của người bán thì phải là tên ở trong quyển sổ."
Chúng tôi ngồi ở ngôi nhà đó tới mười một giờ.
Ngoài ngõ có một chiếc xe máy đi qua, và tiếng của nó thì xa dần, rồi mất.
Tôi ghi tên của mười hai hộ, và số của tấm giấy, và tôi đếm những dấu móc ở trên những tấm giấy đó.
Ba mươi mốt dấu.
Ba mươi mốt dấu ở trên những tấm giấy của mười hai ngôi nhà.
Và người nào ở trong mười hai ngôi nhà đó thì cũng không biết dấu đó thì có nghĩa gì.
🧩
Mười một giờ, ngôi nhà thì vơi.
Mùi nhang cũ vẫn còn ở trong tường, và nó trộn với mùi mưa của buổi sáng.
Tôi ngồi ở cái bàn, và tôi xếp những tấm giấy thành một cái tập, và tôi lấy quyển sổ tay an nhàn ra.
"Điều ba mươi chín: dấu đó thì không phải dấu của một người. Nó là dấu của một cái chỗ mà quyển sổ không có."
Rồi tôi đánh một dấu tích.
Rồi tôi cầm tấm giấy cuối cùng lên, tấm giấy mà bà ở ngôi nhà thứ chín để lại.
Tấm giấy đó thì mới. Nó trắng hơn những cái kia, và mực của nó thì đen.
Nó là một tấm giấy chuyển nhượng đất, và ngày ở trên nó thì là ngày của cái tháng trước.
Cái bên chuyển nhượng thì có một tên, và tên đó thì là tên mà tôi đã đọc ở trong cái tủ sắt: TRẦN THỊ NGỌ.
Ở dưới tên đó thì có một dấu móc, và dấu đó thì cong về phía tay trái.
Rồi ở dưới dấu đó thì có một chữ ký nữa, và chữ ký đó thì là của bà ở ngôi nhà thứ chín.
Tôi nhìn tờ giấy đó, và tay tôi thì lạnh.
Người đó thì đã bán cái đất của mình, cái tháng trước, cho một công ty.
Và ở trên tấm giấy đó thì có tên của một người đã chết hai mươi hai năm.
Tôi gọi cho bà đó.
"Cô ơi,"
Bà ấy nói.
"tấm giấy đó thì người ta đưa cho tôi ký ở xã."
"Mà người ta nói: tấm giấy này thì là tấm giấy của hộ, không phải của ngôi nhà."
"Bà có đọc tên ở trên đó không?"
"Tôi không biết chữ."
🔥 Kết thúc chương 148
(Hết chương 148)








