Chương 141: dấu khắc ngược
Cái cửa ở dưới cái cầu thang thì mở.
Tiếng quạt ở trên trần vẫn kêu, đều, và nó không cho căn phòng im hẳn.
Tiếng của nó thì nhỏ, tiếng của một bản lề đã lâu không tra dầu.
Nhưng ở trong hành lang tối, tiếng đó thì to, và tôi thì đứng im.
Người đi vào thì là người đàn ông ngồi ở trên cái ghế đá ở dưới cái cây bàng.
Ông ấy cầm cái nón ở trong tay, và ông ấy đứng ở chân cầu thang, và ông ấy không đi lên.
Cái bóng của ông ấy thì dài, và nó đổ ở trên cái vách của hành lang, và nó không động đậy.
Chị Trang thì đứng ở sau tôi, và tay của chị ấy thì ở trên cái túi, chỗ cái máy ảnh.
"Căn phòng hồ sơ thì còn mở à?"
Ông ấy hỏi.
Chị Thắm nhìn ông ấy.
"Ông Mười. Ông lên đây."
Ông ấy đi lên chậm. Chân trái của ông ấy thì không được tốt, và tay của ông ấy thì bám vào cái lan can.
Một người đi ngang con hẻm, và dép của người đó thì kêu trên nền đá.
Ông ấy đứng ở cái cửa, và ông ấy nhìn cái hộp gỗ ở trên cái bàn.
"Cái hộp đó,"
Ông ấy nói.
"Tôi đã nhìn thấy cái hộp đó bốn mươi năm."
Chị Thắm kéo một cái ghế cho ông ấy.
"Ông ngồi đi. Ông nói cho tôi nghe việc ở cái đêm hôm qua."
🖤
Ông Mười ngồi xuống, và ông ấy đặt cái nón ở trên cái đầu gối.
"Tôi làm việc bảo vệ ở xã này từ năm 1979 tới năm 2005,"
Ông ấy nói.
"Tôi giữ chìa khoá của cái cổng, và tôi giữ quyển sổ giao ca."
"Năm 1979 thì xã này thì mới làm việc cấp tấm giấy cho người không biết chữ."
"Tôi đi theo ông cán bộ, và tôi thì bưng cái hộp hồ sơ, từng ngôi nhà một."
"Ngôi nhà đầu tiên thì ở cái ấp Bà Đen."
"Ngôi nhà đó thì có cái cửa xanh, và người ở trong ngôi nhà đó thì rót cho tôi một cái chén nước."
Ông ấy nhìn cái hộp gỗ.
"Người đó là ông Lộc."
"Mà cái chén nước đó thì tôi vẫn nhớ, vì cái chén đó thì có một cái miếng vá ở trên cái miệng chén."
"Quyển sổ đó thì bây giờ ở đâu?"
"Ở nhà tôi."
"Tôi giữ nó."
"Người ta không lấy quyển sổ của người gác cổng."
Chị Thắm nhìn tôi, và tôi hiểu cái nhìn đó.
Ông ấy nói:
"Cái đêm hôm qua, có một chị tới cái cổng lúc chín giờ."
"Chị đó thì đi cái xe đạp, và ở trên cái xe đó thì có một cái giỏ."
"Chị đó có tấm giấy."
"Tấm giấy gì?"
"Một tấm giấy có dấu đỏ. Chị đó nói: em lên căn phòng hồ sơ một chút, em có việc của huyện."
"Rồi ông cho chị đó vào?"
"Tôi cho vào. Tấm giấy đó thì có dấu, mà dấu thì tôi không biết đọc."
Ông ấy ngừng, và ông ấy nhìn cái hộp gỗ.
"Chị đó ở trên này hai mươi phút."
"Rồi chị đó đi xuống, và chị đó nói với tôi một câu."
"Bác ơi, cái đêm nay thì bác đừng ghi tên em vào quyển sổ."
"Ông có ghi không?"
"Tôi ghi."
Ông ấy nói, và giọng của ông ấy thì bình thường.
"Tôi ghi giờ."
"Tôi không ghi tên, vì chị đó không nói."
"Mà tôi ghi một chữ ở bên cạnh: cái xe đạp thì có cái giỏ, và ở trong cái giỏ thì có một cái túi vải."
💔
Chị Trang để cái máy ảnh xuống, và chị ấy cầm dấu thứ sáu mươi tư lên.
Ở đâu đó có tiếng chó sủa một tiếng, rồi im.
Dấu đó thì mới. Cái gỗ của nó thì sáng hơn những dấu kia, và ở trên mặt dấu thì còn vết của cái dao.
Chị ấy đưa nó cho tôi.
Tôi cầm nó, và tôi thấy mặt dấu đó thì khắc một dấu móc.
Mà dấu móc đó thì khắc sai.
Dấu móc thật thì cái nét của nó cong về phía tay phải của người đọc, và cái đầu của nó thì nhỏ.
Dấu ở trên mặt dấu này thì cong về phía tay trái, và cái đầu của nó thì to.
Tôi lật dấu lại, và tôi nhìn cái chuôi.
Ở trên cái chuôi có ba chữ, khắc bằng cái dao, và chữ thì đọc được, không phải chữ ngược:
"BỐNG."
Căn phòng im.
"Dấu này thì khắc sai,"
Tôi nói.
"người khắc dấu này thì không biết dấu móc thì ở phía nào."
"Người đó thì chỉ có một bản photocopy.
Và người đó thì nhìn bản photocopy đó, và người đó thì khắc nó ra đúng như cái nó nhìn thấy."
"Dấu thì phải khắc ngược,"
Chị Trang nói.
"Dấu thì phải khắc ngược."
"Mà dấu này thì khắc xuôi."
"Cho nên khi mà người ta đóng nó xuống tấm giấy, thì dấu móc ở trên tấm giấy sẽ quay ngược lại."
Chị Thắm lấy một tờ giấy ở trong cái ngăn kéo, và chị ấy đặt tờ giấy đó lên cái bàn.
Gió thì đi qua, và mấy cái lá ở giàn thì động.
Rồi chị ấy lấy cái hộp mực đỏ, và chị ấy đóng dấu khắc ngược xuống tờ giấy đó.
Dấu in ra thì đỏ, và dấu móc ở trên tấm giấy thì cong về phía tay trái của người đọc.
Nó quay ngược lại, đúng như tôi nghĩ.
Rồi chị ấy lấy một dấu cũ ở trong cái ngăn thứ nhất, dấu có số 31, và chị ấy đóng nó ở bên cạnh.
Dấu đó thì cong về phía tay phải.
Hai dấu thì ở trên cùng một tờ giấy, và chúng thì giống như hai người đứng ở hai bên cái gương.
Chị Thắm cầm dấu khắc ngược, và chị ấy nhìn nó một lúc lâu.
"Vậy là có một người đang làm một dấu mới,"
Chị ấy nói.
"Để đóng lên một tấm giấy."
"Để đóng lên một tấm giấy có tên Bống."
Chị ấy nhìn tôi, và gương mặt của chị ấy thì trắng.
🌙
Ở dưới dấu đó, ở trong cái ngăn thứ ba, thì có một tấm giấy nhỏ.
Ngoài ngõ có một chiếc xe máy đi qua, và tiếng của nó thì xa dần, rồi mất.
Nó là một hoá đơn. Hoá đơn đó thì viết tay, và ở trên đầu nó có một dòng chữ in:
"Tiệm khắc dấu Hồng Phát. Thị trấn, con đường thứ hai."
Hoá đơn đó ghi: "01 con dấu gỗ, chữ BỐNG, khắc trong ngày. Giá: bốn trăm nghìn."
Ngày ở dưới hoá đơn thì là ngày của ba tuần trước.
Và ở dòng «người nhận» thì có một chữ ký.
Chữ ký đó thì ngắn, và nó chỉ có một chữ H.
Chữ H đó thì viết bằng một cái nét, và cái nét cuối của nó thì kéo dài xuống ở dưới dòng.
Tôi nhìn chữ H đó, và tôi nghĩ tới chữ H ở trong quyển sổ theo dõi tủ ở bưu điện.
Chữ H mà chị ở cái quầy đã đọc cho tôi nghe sáng nay.
"Hoá đơn này thì ghi tên của cái tiệm,"
Tôi nói.
"Mà cái tiệm đó thì ở thị trấn."
"Nó ở con đường thứ hai, con đường mà có cái chợ chiều."
"Mai tôi đi cái tiệm đó,"
Chị Trang nói.
"Người bán dấu đó thì sẽ nhớ gương mặt của người mua."
"Và người đó thì sẽ không nhớ gương mặt của một ngôi nhà báo, nếu mà ngôi nhà báo đó thì mua một dấu khác."
Chị ấy nhìn tôi, và mắt của chị ấy thì sáng.
"Tôi sẽ mua một dấu."
"Dấu đó thì tôi khắc tên của tôi."
"Và tôi sẽ hỏi ông đó một câu."
"Ông ơi, ba tuần trước thì có một chị khắc chữ BỐNG, chị đó thì trả tiền bằng cái gì?"
"Không phải chữ đó,"
Tôi nói.
Chị Trang nhìn tôi.
"Chữ H ở bưu điện thì cái nét cuối của nó thì đi lên. Chữ H này thì cái nét cuối của nó thì đi xuống."
"Vậy là hai người,"
Chị ấy nói.
Mùi nhang cũ vẫn còn ở trong tường, và nó trộn với mùi mưa của buổi sáng.
"Hoặc là một người, và người đó thì viết hai cái kiểu."
Ông Mười ngồi ở trên cái ghế, và ông ấy nói một câu, và câu đó thì làm căn phòng im:
"Chị đi cái xe đạp đó thì cái áo màu xanh. Mà cái áo đó thì có cái phù hiệu ở trên tay áo."
"Cái phù hiệu gì?"
"Tôi không biết. Cái phù hiệu đó thì tròn, và nó thì ở trên tay áo bên trái."
🧩
Rồi chị Thắm nói một câu, và câu đó thì không liên quan tới dấu.
"Chiều nay tôi có gọi số ở trên công văn. Số đó thì là số của căn phòng hồ sơ ở huyện."
"Người ở đầu dây kia thì nói với tôi một câu: ở huyện thì không có công văn nào số bảy mươi hai.
Và cũng không có cái đoàn kiểm tra nào vào ngày mai."
Căn phòng im một lúc lâu.
"Vậy là công văn đó thì là tấm giấy giả,"
Chị Trang nói.
"Dấu ở trên công văn đó thì là dấu thật,"
Chị Thắm nói.
"Tôi đã nhìn dấu đó hai lần."
"Nó là dấu của cái uỷ ban."
"Mà dấu đó thì ở trong căn phòng của chủ tịch."
Chúng tôi ra khỏi xã lúc tám giờ.
Chị Thắm khoá cái cửa, và chị ấy giữ cái hộp gỗ ở trong cái tủ sắt của căn phòng.
Cái tủ mà có cái khoá thứ hai.
"Cái hộp này thì không để ở cái giá nữa,"
Chị ấy nói.
"Mà dấu mới thì tôi giữ ở nhà tôi."
"Cái đó thì phải cho hội đồng giám định xem,"
Chị Trang nói.
"dấu khắc ngược thì là cái bằng chứng."
"Nó chứng minh là có một người đang làm tấm giấy giả, ở cái thời điểm này, không phải ở năm 2003."
Chị ấy nhìn tôi.
"Mà người đó thì biết tên Bống."
"Mà tên đó thì chỉ có ở trong ngôi nhà này, và ở trong cái tủ sắt, và ở trong băng."
Tôi đứng ở cái sân, ở dưới cái cây bàng, và tôi lấy quyển sổ tay an nhàn ra.
"Điều ba mươi hai: Một dấu thì phải khắc ngược, vì dấu thì nói điều ngược với tay của người làm ra nó."
Rồi tôi đánh một dấu tích.
Cái điện thoại của tôi reo.
Số đó thì là số của toà án, và người ở đầu dây kia thì nói một câu mà tôi đã chờ:
"Phiên toà thì đổi ngày. Nó sẽ mở vào thứ năm, lúc tám giờ."
Tôi đứng ở dưới cái cây bàng, và tôi nghe tiếng của cái xe ở ngoài con đường.
Rồi tôi nghĩ: thứ năm thì còn ba ngày. Mà người khắc dấu đó thì cũng đang đếm.
🔥 Kết thúc chương 141
(Hết chương 141)








