Truyện Gia Cát Tiểu thuyết ↩ Về trang truyện

Chương 139: dấu của người không biết viết

Ngôi nhà của bà Tư thì ở phía sau cái chợ, ngôi nhà thứ ba tính từ cái giếng.

Một người đi ngang con hẻm, và dép của người đó thì kêu trên nền đá.

Con đường vào đó thì hẹp, và hai bên con đường thì có những cái sạp đã dẹp, cái ván còn ẩm.

Và mùi của rau để qua đêm thì ở trong cái không khí.

Tôi đi qua cái chỗ đó, và tôi nghĩ tới cái sạp của mẹ tôi, cái sạp ở đầu con hẻm Bà Đen.

Hai mươi hai năm, mẹ tôi ngồi ở cái sạp đó.

Và mẹ tôi bán cái rau, và mẹ tôi không có một tấm giấy nào ở trong cái túi.

Tôi tới đó lúc hai giờ chiều, và cái nắng thì đứng ở trên cái mái tôn.

Cái sân của bà ấy thì sạch. Cái chổi thì dựng ở cạnh cái cột.

Ở đâu đó có tiếng chó sủa một tiếng, rồi im.

Ở trên cái thềm có một cái chậu nước, và ở trong cái chậu đó có mấy cái chén đang phơi.

Tôi có mang một cái bịch cam.

Ở cái chợ này thì người ta đi ngôi nhà nào cũng mang một cái gì, và thứ dễ nhất thì là cái trái cây.

Tôi để cái bịch cam ở trên cái thềm, ở cạnh cái chậu nước.

Bà Tư đang ngồi ở trên cái chiếu, ở trong cái bóng của cái mái.

Gió thì đi qua, và mấy cái lá ở giàn thì động.

Bà ấy nhìn tôi, và bà ấy không ngạc nhiên. Cái kiểu của một người đã biết ngày này sẽ tới.

"Cô ngồi đi."

Tôi ngồi xuống cái ghế đẩu, ở bên cạnh cái chiếu.

"Cái giỗ hôm đó,"

Tôi nói.

"Cái giỗ của ông Lộc."

"Bà làm cái giỗ đó mỗi năm."

"Tôi làm."

"Vì cái gì?"

Bà ấy im. Rồi bà ấy nói:

"Vì tôi có một lỗi với ông đó."

🖤

Trong ngôi nhà của bà ấy có một cái bàn thờ, và ở trên cái bàn thờ thì có hai tấm ảnh.

Tấm ảnh thứ nhất là ông Lộc.

Tấm ảnh thứ hai thì nhỏ hơn, và trong tấm ảnh đó có một chị, cái tóc dài, mặt tròn.

Ngoài ngõ có một chiếc xe máy đi qua, và tiếng của nó thì xa dần, rồi mất.

Tôi đã nhìn thấy mặt đó ở trong cái hộp sắt của bà Năm, sáng nay.

"Bà quen bà Trần Thị Ngọ,"

Tôi nói.

"Quen."

Bà ấy nói.

"chị đó thì ở cái ấp này."

"Chị đó thì đi cái chợ với tôi, từ năm tôi mười lăm."

"Chị đó chết năm 1972."

"Chị đó chết ở cái bến sông. Chị đó đi cái ghe, và cái ghe thì lật."

Bà ấy nhìn tấm ảnh.

"Tôi đứng ở trên cái bờ. Tôi không biết bơi."

Ngôi nhà im. Ở ngoài cái sân, có một con gà kêu, và tiếng của nó thì ngắn.

"Chị đó thì không có chồng, không có con,"

Bà ấy nói.

"chị đó thì chỉ có một tên."

"Mà tên đó thì ông Lộc đem đi cho con của chị Bống."

"Bà biết việc đó."

"Tôi biết. Tôi là người ký."

💔

Bà ấy đứng lên, và bà ấy đi vào trong căn buồng.

Mùi nhang cũ vẫn còn ở trong tường, và nó trộn với mùi mưa của buổi sáng.

Bà ấy ra với một cái hộp gỗ, cái hộp đựng dấu.

Cái hộp đó thì dài, cái nắp thì trượt. Ở trong hộp có một dấu gỗ, một cái hộp mực đỏ, và một tấm giấy.

Bà ấy lấy dấu ra, và bà ấy đưa cho tôi.

Dấu đó thì nhỏ, mặt dấu thì tròn, và ở giữa mặt dấu thì có một chấm.

Nắng thì dời một chút, và bóng của cái cửa sổ thì dài ra trên nền nhà.

"Tôi không biết viết,"

Bà ấy nói.

"mẹ tôi thì cũng không biết viết."

"Người ở cái ấp này, hồi đó, thì nhiều người không biết viết."

"Người ta ký bằng dấu."

"Người ta ký bằng dấu."

"Dấu này thì của tôi."

"Chấm ở giữa thì là chấm của người chưa có tên."

Bà ấy cầm dấu lên, và bà ấy xoay nó ở trong tay.

"Dấu này thì ông thợ mộc ở cái xóm dưới khắc cho tôi, năm 1990."

"Hồi đó xã mới làm việc cấp tấm giấy cho người không biết chữ."

"Người ta bảo tôi: bà tới xã, bà đóng dấu này, thì tấm giấy đó thì xã giữ."

"Mà dấu thì xã giữ luôn, để người khác thì không đóng được."

Bà ấy nhìn tôi.

"Mà xã thì giữ dấu ở trong một cái hộp không có khoá."

Tôi cầm dấu đó ở trong tay, và nó nhẹ. Nó nhẹ như một cái nút áo.

"Biên bản ngày 14 tháng 7 năm 2003 thì có bốn chữ ký,"

Tôi nói.

"Tôi biết."

"Chữ ký thứ tư thì là dấu này."

Bà ấy nhìn tôi, và mắt của bà ấy thì không đổi.

Tiếng quạt ở trên trần vẫn kêu, đều, và nó không cho căn phòng im hẳn.

"Dấu đó thì là dấu của tôi,"

Bà ấy nói.

"Mà ngày đó thì tôi không có ở căn phòng họp."

🌙

Tôi để dấu xuống cái chiếu.

"Bà nói lại."

"Ngày 14 tháng 7 năm 2003, tôi ở ngôi nhà này."

"Tôi đang phơi cái lúa."

"Cái lúa đó thì ướt, và tôi phải phơi hai cái nắng."

Bà ấy ngừng.

"Dấu của tôi thì ở trong cái hộp này."

"Cái hộp này thì ở trong căn buồng."

"Mà căn buồng thì khoá."

"Ai có chìa khoá?"

"Ông Lộc có."

"Ông ấy là em của tôi."

"Ông ấy tới ngôi nhà này thì ông ấy mở cái cửa, và ông ấy lấy cái gì thì ông ấy lấy."

Bà ấy nhìn tôi.

"Tôi không biết ông ấy lấy dấu. Tôi biết việc đó vào năm 2009, khi bà ở xã tới đây và bà ấy hỏi tôi một câu."

"Câu gì?"

"Bà ấy hỏi: dấu này thì có phải dấu của bà không."

"Tôi nói: phải. Rồi tôi hỏi bà ấy: tấm giấy đó thì là tấm giấy gì."

"Bà ấy nói: tấm giấy đó thì là tấm giấy khai sinh của một con.

Và ở dưới tấm giấy đó thì có dấu của tôi, và ở trên dấu đó thì có một chữ ký khác."

"Tôi nói: tôi không ký tấm giấy đó."

"Bà ấy nói: tôi biết."

"Rồi bà ấy đi."

"Mà tờ giấy đó thì bà ấy không lấy lại."

"Bà ấy để nó ở trên cái bàn, và bà ấy nói một câu: bà giữ cái này, sau này có người hỏi thì bà đưa ra."

Tôi nhìn dấu ở trên cái chiếu.

"Vậy là có một người đã đóng dấu của bà, ở trên một tấm giấy mà bà không có ở đó."

Bà ấy gật.

"Có một người đã đóng dấu của tôi bốn mươi bảy lần."

Cái lạnh thì chạy ở trên lưng tôi, và nó chạy chậm hơn sáng nay.

"Bà biết người đó là ai."

"Tôi biết."

Bà ấy nói.

"Mà tôi không nói tên đó ở trong ngôi nhà này."

"Ông Lộc thì chết ngày 14 tháng 7 năm 2004. Đúng một năm sau ngày đó."

"Ông ấy chết ở trong ngôi nhà cửa xanh."

"Ông ấy ngồi ở trên cái ghế, và tay của ông ấy thì cầm một quyển sổ."

"Quyển sổ đó thì rơi xuống cái sàn, và người tới đầu tiên thì là người mua ngôi nhà."

"Quyển sổ đó thì bây giờ ở đâu?"

Tôi hỏi.

Một người đi ngang con hẻm, và dép của người đó thì kêu trên nền đá.

"Không ai biết."

Bà ấy nói.

"Mà ngôi nhà thì bán cái tháng sau."

"Mà người mua thì trả cái giá của một ngôi nhà, mà người mua thì không dọn vào ở."

"Hai mươi hai năm, cái cửa xanh đó thì đóng."

"Vì cái gì?"

"Vì người đó thì có chìa khoá của ngôi nhà này."

"Và người đó thì đã tới đây cái tháng trước, và người đó thì đã ngồi ở cái chỗ mà cô đang ngồi."

🧩

Tôi ngồi ở cái chỗ đó, và tôi nghe tiếng của cái quạt ở trên cái vách.

"Dấu này thì bây giờ ở đâu?"

Tôi hỏi.

"Ở trong cái hộp dấu của xã."

"Cái hộp dấu của xã?"

"Ở căn phòng hồ sơ thì có một cái hộp gỗ, và ở trong cái hộp đó thì có dấu của những người không biết viết."

"Hồi đó thì xã giữ dấu của người đó, để người đó tới ký tấm giấy."

Bà ấy nhìn tôi.

"Dấu của tôi thì ở trong cái hộp đó, từ năm 1990. Mà cái hộp đó thì không có khoá."

Tôi nghĩ tới căn phòng hồ sơ, căn phòng mà tôi đã ngồi ở trong đó cái đêm hôm trước.

Tôi nghĩ tới cái giá thứ ba, cái giá mà có một cái hộp gỗ.

Và cái hộp đó thì tôi đã nhìn thấy, và tôi đã không mở, vì cái hộp đó thì không có một cái nhãn nào.

"Bà Tư,"

Tôi nói.

"Cái hộp đó thì ở cái giá thứ ba."

Bà ấy không trả lời.

"Bà có biết người ở xã đã đóng dấu đó bốn mươi bảy lần là ai không?"

Bà ấy nhìn ra cái sân, và bà ấy nói một câu mà tôi không nghĩ tới:

"Người đó thì không phải người ở xã."

Bà ấy quay lại nhìn tôi.

"Dấu thì ở xã."

"Mà người đóng dấu thì là người ở ngôi nhà cửa xanh."

"Ông Lộc thì đóng dấu đó cho người ta, và ông ấy lấy tiền."

Tôi đứng lên.

"Vậy thì biên bản đó thì không có một chữ ký nào là thật."

"Có một cái."

Bà ấy nói.

"chữ ký của người chủ trì."

"Chữ ký đó thì là thật, vì người đó thì có ở căn phòng họp, và người đó thì cầm bút."

"Vũ Thị Loan."

"Tôi không biết tên đó."

"Tôi chỉ biết mặt."

"Cái mặt đó thì tôi nhìn thấy một lần, ở cái chợ, và người đó thì đi một cái xe hơi màu trắng."

Rồi bà ấy nói thêm, và giọng của bà ấy thì nhỏ:

"Mà cô đừng đi một mình tới xã."

Tôi đi ra cái cổng, và tôi đứng lại ở cái chỗ có cái giếng.

Rồi tôi lấy quyển sổ tay an nhàn ra, và tôi viết ở dưới cái bóng của cái cây:

"Điều ba mươi: Một dấu thì không phải một chữ ký."

"Một dấu thì có thể đóng ở bất cứ cái chỗ nào, bởi bất cứ cái ai, mà người có dấu đó thì không biết."

Rồi tôi đánh một dấu tích.

Rồi tôi lấy cái điện thoại ra, và tôi gọi cho chị Trang.

"Cái hộp dấu ở xã,"

Tôi nói.

"Cái hộp gỗ ở cái giá thứ ba."

"Chị mang cái máy ảnh."

"Còn cái gì nữa?"

Chị ấy hỏi.

"Còn người ở ngôi nhà cửa xanh thì đã chết năm 2004."

"Mà dấu của bà Tư thì vẫn đóng được ở trên giấy, hai mươi hai năm sau."

🔥 Kết thúc chương 139

(Hết chương 139)

Khu trò chơi

Giải Lao Sau Khi Đọc Truyện — Chơi Game Nhanh

Tất cả trò chơi →
Trick PawsNổi bật · ★4.7Trick PawsHTML5★4.7Boat War MayhemBoat War MayhemHTML5★4.8City Bus Simulator Driving GamesCity Bus Simulator Driving GamesHTML5★4.3Call Of TanksCall Of TanksHTML5★4.4Heist IdleHeist IdleHTML5★4.5Octopus RunOctopus RunHTML5★4.3Magic Battle OnlineMagic Battle OnlineHTML5★4.8Haunted House IdleHaunted House IdleHTML5★4.6Plant SquadPlant SquadHTML5★4.3