Chương 138: ngôi nhà có cái cửa xanh
Ngôi nhà có cái cửa xanh thì ở đầu con hẻm Bà Đen, phía tay phải, ngôi nhà thứ hai.
Mùi nhang cũ vẫn còn ở trong tường, và nó trộn với mùi mưa của buổi sáng.
Tôi đã đi qua ngôi nhà đó rất nhiều lần. Tôi chưa bao giờ đứng lại.
Cái cửa của nó thì đóng.
Cái sơn xanh thì bong ở dưới, chỗ chân cửa.
Ở trên cái tường thì có một cái mảng rêu. Và ở trên cái mảng rêu đó thì có một cái cây nhỏ mọc ra từ cái khe.
Tôi gõ cửa. Không có ai.
Ngôi nhà bên cạnh thì có một bà cụ đang ngồi ở trên cái ghế đẩu, ở trước cái sân.
"Bà ơi,"
Tôi nói.
"ngôi nhà này thì ai ở?"
Bà ấy nhìn tôi, từ chân lên tới mặt.
"Ngôi nhà này thì không có ai ở. Ngôi nhà này thì bỏ từ năm 2004."
Bà ấy ngừng, rồi bà ấy nói tiếp:
"Mà người ở ngôi nhà này thì chết rồi."
"Ai chết?"
"Ông Lộc."
Bà ấy nói tên đó như nói một tên bình thường.
"Ông ấy chết năm 2004, tháng bảy."
"Rồi ngôi nhà thì bán."
"Mà người mua thì không ở."
"Người ta mua để đó."
Tôi đứng ở trước cái cửa xanh, và tôi nhớ cái giỗ ở nhà bà Tư, cái giỗ mà tôi tới dự hồi tháng tám.
Cái giỗ đó là giỗ của ông Lộc.
Mà người đi làm tấm giấy cho mẹ tôi năm 1979 thì là người ở trong ngôi nhà này.
Nắng thì dời một chút, và bóng của cái cửa sổ thì dài ra trên nền nhà.
"Bà ơi,"
Tôi nói.
"bà cụ mà chống cái gậy tre, bà ấy ở đâu?"
Bà cụ ở trên cái ghế đẩu nhìn tôi một lúc.
"Con hỏi bà đó làm gì?"
"Con có một việc."
"Con là con của ai?"
"Con là con của chị Bống. Chị bán ở cái chợ, cái sạp ở đầu con hẻm."
Bà ấy im. Rồi bà ấy nói:
"Con đi hết con hẻm này. Rồi con quẹo phải ở cái cây me."
"Ngôi nhà cuối cùng thì có cái cửa xanh, cái cửa xanh nhạt hơn cái cửa này. Bà Năm ở đó."
🖤
Ngôi nhà cuối hẻm thì nhỏ. Cái mái thì thấp, và ở trước cái sân có một cái cây me.
Cái cửa xanh nhạt. Ở trên cái cửa có một cái miếng giấy dán, và trên miếng giấy có một chữ: "Năm".
Tôi đứng ở ngoài cái sân, và tôi nói to:
"Bà Năm ơi."
Không có ai trả lời. Rồi cái cửa mở, và một chị tóc ngắn bước ra.
Chị đó khoảng ba mươi.
Cái tóc thì cắt tới cái tai.
Cái áo thì là cái áo thun, và ở trên tay thì có một cái đồng hồ.
Chị đó nhìn tôi, và gương mặt của chị ấy thì không ngạc nhiên. Cái mặt đó là gương mặt của một người đã chờ.
"Cô Mai,"
Chị ấy nói.
"Chị biết tôi?"
"Tôi biết mặt cô."
Chị ấy đứng ở cái bậc cửa, và tay của chị ấy thì nắm cái cánh cửa.
"Tôi là Hạnh. Tôi là người trả tiền cho cái tủ ở bưu điện."
"Chị làm gì?"
Tôi hỏi.
"Tôi dạy trường cấp hai ở dưới cái chợ. Tôi dạy cái môn văn."
Chị ấy nhìn tôi.
"Tiền trả cho cái tủ đó thì không phải tiền của tôi. Tiền đó là tiền của bà tôi."
"Bà tôi để dành, mỗi năm một ít, ở trong cái hộp sắt."
"Mà bà tôi thì không đi được."
"Nên tôi đi."
Tôi không nói gì. Tôi đứng ở cái sân, và tôi nghe tiếng của cái lá me ở trên đầu.
"Bà tôi đang ở trong nhà,"
Chị ấy nói.
"Bà ấy chờ cô từ tháng trước."
💔
Trong ngôi nhà thì tối, và mùi thì là mùi của một ngôi nhà có người già ở.
Tiếng quạt ở trên trần vẫn kêu, đều, và nó không cho căn phòng im hẳn.
Bà Năm ngồi ở trên cái chõng tre. Lưng của bà ấy thì cong, và hai tay của bà ấy thì để ở trên cái đầu gối.
Cái gậy tre thì dựng ở cạnh cái chõng.
Bà ấy nhìn tôi. Cái mắt của bà ấy thì vẫn sáng, cái kiểu sáng của một người đã nhìn nhiều thứ.
"Con này giống chị nó,"
Bà ấy nói.
"Mà mắt thì không giống."
"Cái mắt thì giống ông ở nhà cửa xanh."
Tôi ngồi xuống cái ghế đẩu ở trước cái chõng.
"Bà ơi,"
Tôi nói.
"Bà là chị của bà Trần Thị Ngọ."
"Tôi là em."
Bà ấy nói câu đó chậm.
"Chị của tôi thì hơn tôi bảy tuổi. Chị của tôi chết năm 1972, ở cái bến sông, cái bến ở dưới cái chợ."
"Chị của tôi thì chưa có chồng, chưa có con."
"Chị của tôi thì chỉ có một tên, và tên đó thì bây giờ ở trên tấm giấy của mẹ cô."
Bà ấy không nhìn tôi khi nói câu đó.
Cái bàn thờ ở trên cái vách thì có một tấm ảnh, và tấm ảnh đó thì nhỏ hơn tấm ảnh ở trong cái hộp sắt.
Ở trên cái bàn thờ có một cái bát hương. Có một cái đĩa có ba cái quả, và một cái chén nước.
Cái chén nước đó thì đầy.
Nó đầy tới cái miệng chén.
Người ở trong ngôi nhà này thì thay cái nước đó mỗi ngày, hai mươi hai năm rồi.
"Bà có giận không?"
Tôi hỏi.
Một người đi ngang con hẻm, và dép của người đó thì kêu trên nền đá.
"Giận ai?"
"Giận người lấy tên đó."
Bà ấy im một lúc. Rồi bà ấy nói:
"Tôi là người cho."
Ngôi nhà im. Ở ngoài cái sân, cái lá me rơi xuống cái mái, và nó kêu một tiếng nhỏ.
Bà ấy nói:
"Năm 1979, ông ở nhà cửa xanh tới ngôi nhà này."
"Ông ấy cầm một tấm giấy."
"Rồi ông ấy nói: cái cháu của tôi thì có một con, mà con đó thì không có tấm giấy."
"Chị của bà thì đã mất. Tên của chị của bà thì không có ai dùng."
"Bà cho tên đó ở lại trên đời này, thì chị của bà cũng còn."
"Bà nhận bao nhiêu tiền?"
"Ba chỉ vàng."
Bà ấy nói, và giọng của bà ấy thì không đổi.
"Mà tôi không lấy."
"Tôi bảo ông ấy cầm cái vàng đó mà đi mua cái sữa cho con đó."
Bà ấy nhìn tôi.
"Con đó là cô."
🌙
Rồi bà ấy bảo chị Hạnh mở cái tủ ở dưới cái bàn thờ.
Chị đó lấy ra một cái hộp sắt, cái hộp nhỏ, cái nắp thì gỉ.
Ở trong hộp có ba tấm giấy.
Tấm giấy thứ nhất là tấm giấy khai tử. Nó là bản gốc, tấm giấy cũ, và chữ thì đã mờ.
"Trần Thị Ngọ."
"Sinh 1945."
"Mất 1972."
"Nguyên nhân: đuối nước."
"Chưa có chồng, chưa có con."
Tấm giấy thứ hai là một tấm ảnh.
Trong tấm ảnh có một chị, cái tóc thì dài, mặt thì tròn, và chị đó thì đang đứng ở trước một cái quán.
Tôi nhìn mặt đó, và cái lạnh thì chạy ở trên lưng tôi.
Ở đâu đó có tiếng chó sủa một tiếng, rồi im.
Cái mặt đó giống gương mặt của mẹ tôi.
Không phải giống hẳn.
Giống cái sống mũi, và giống cách mà người đó nghiêng cái đầu.
"Không có họ hàng gì,"
Bà Năm nói.
"Chị của tôi với mẹ của cô thì không có họ hàng gì. Mà mặt thì giống."
"Đó là lý do mà ông ở nhà cửa xanh chọn tên đó. Ông ấy nói: mặt giống thì tấm giấy nó đứng."
Tấm giấy thứ ba là một tờ giấy học trò, tấm giấy kẻ ô, và ở trên đó có một danh sách.
Không phải bốn mươi bảy tên. Chỉ có bảy tên.
"Đây là danh sách của năm 1979,"
Bà ấy nói.
"Bảy người ở cái ấp này, người nào cũng có một tên của một người đã mất."
"Ông ở nhà cửa xanh thì làm việc đó cho bảy ngôi nhà. Rồi tới năm 2003 thì danh sách đó thành bốn mươi bảy."
Tôi nhìn tờ giấy đó, và tôi đọc tên ở dòng đầu.
"Nguyễn Thị Bảy."
"Đó là mẹ của bà Tư,"
Bà Năm nói.
🧩
Tôi ngồi ở ngôi nhà đó tới trưa.
Bà Năm nói cho tôi nghe việc bà ấy sẽ làm.
Bà ấy sẽ đi xã, và bà ấy sẽ nói câu mà bà ấy giữ trong hai mươi hai năm.
Gió thì đi qua, và mấy cái lá ở giàn thì động.
"Nhưng mà tôi đi thì cô phải có cái cột đó,"
Bà ấy nói.
"Cái cột bốn."
"Cái cột bốn."
"Bốn mươi bảy mảnh giấy."
"Biên bản."
"Quyển sổ của ông Hải."
"Cô phải mang hết. Tôi không nói cái gì mà không có tấm giấy."
Rồi bà ấy nói thêm một câu, và câu đó thì bà ấy nói rất nhỏ:
"Mà cô phải đi trước người thứ tư."
"Người thứ tư ở trong biên bản?"
"Ở trong biên bản thì có bốn chữ ký."
"Chữ ký thứ tư thì là một cái vòng tròn với một chấm ở trong. Người đó thì cô biết."
"Con không biết."
Bà ấy nhìn tôi.
"Người đó thì tới ngôi nhà này mỗi năm một lần. Người đó thì cầm cái giỏ, và trong cái giỏ thì có cái hương."
"Người đó thì đứng ở trước cái bàn thờ của chị tôi, và người đó thì không nói một câu nào."
Bà ấy ngừng.
"Người đó là bà Tư."
Chị Hạnh đưa tôi ra cái cổng.
Chị ấy đi cái xe đạp, và chị ấy đi ở bên cạnh tôi, và chị ấy không nói gì cho tới cái đầu hẻm.
Rồi chị ấy nói:
"Cô Mai. Cái xe đen hôm qua là tôi gọi."
Tôi đứng lại.
"Tôi không biết cô Vy,"
Chị ấy nói.
"Mà phong bì đó thì tới ngôi nhà tôi từ tháng trước."
"Người ta gửi cho bà tôi."
"Mà bà tôi thì không đọc được chữ đó."
"Bà tôi bảo: phong bì này thì phải đưa cho con của chị Bống."
Tôi đi tới cái đầu hẻm Bà Đen, và tôi đứng lại ở cái chỗ mà cái biển tên hẻm thì ở đó.
Cái biển đó không còn.
Ở trên cái tường, cái chỗ mà người ta gắn cái biển, thì có bốn cái lỗ của bốn cái đinh.
Và ở bên cạnh bốn cái lỗ đó, có một dấu móc, vẽ bằng cái phấn trắng, cái nét còn mới.
Tôi lấy quyển sổ tay an nhàn ra, và tôi viết ở dưới cái nắng:
"Điều hai mươi chín: tên của một người thì có thể ở trên tấm giấy của một người khác."
"Mà tên của một con hẻm thì không ai cho mượn được."
Rồi tôi đánh một dấu tích.
Rồi tôi nghe tiếng của một cái máy khoan, ở phía cuối con hẻm.
🔥 Kết thúc chương 138
(Hết chương 138)








